Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2019

Tiếng Việt Quê Tôi


Tiếng Việt Quê Tôi
Tiếng hát : Mai Thảo
Thơ : Louis Lê Tuấn
Nhạc : Quách Vĩnh-Thiện.
Tiếng Việt Mẹ ru mềm trên môi,
Cho con nằm ngủ ở trong nôi,
Giấc ngủ đầu đời êm đềm đó,
Con đã yêu rồi tiếng nước tôi.
Cánh cò lướt gió nhẹ nhàng bay,
Tiếng Việt hò vang nhánh sông đầy,
Lời ru câu hát còn vang vọng,
Theo mãi cánh diều cuối chân mây.
Tiếng Việt Mẹ ru mềm trên môi,
Tiếng Việt hò vang nhánh sông đầy,
Tiếng Việt Mẹ ru bằng thi ca,
Tiếng Việt chợt buồn lời Mẹ ru.
*
Tiếng Việt Mẹ ru bằng thi ca,
Tình quê duyên thắm quá đậm đà,
Bóng cò xoải cánh trên đồng lúa,
Mang cả hồn ta về quê xa.
Tiếng Việt chợt buồn lời Mẹ ru,
Âm vang rung động cả thiên thu,
Nỗi đau còn nợ tình non nước,
Đất Mẹ ngàn xa khói sương mù.
Tiếng Việt Mẹ ru mềm trên môi,
Tiếng Việt hò vang nhánh sông đầy,
Tiếng Việt Mẹ ru bằng thi ca,
Tiếng Việt chợt buồn lời Mẹ ru.
*****
Đôi Nét Về Nhạc Sĩ Quách Vĩnh Thiện
http://thienmusic.free.fr/
*
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện không quá nổi tiếng như một nhạc sĩ chuyên nghiệp với những tác phẩm thành danh, thế nhưng ông lại được biết đến nhờ tài năng cũng như tâm huyết lưu giữ tác phẩm Truyện Kiều cho muôn đời sau bằng một hình thức rất đặc biệt là phổ nhạc cho Truyện Kiều. Điểm đặc biệt hơn là ông đã giữ nguyên vẹn câu chữ của toàn bộ tác phẩm, không thay đổi dù chỉ là một từ.
Thông qua 77 bản nhạc với 7 thể loại nhạc khác nhau, một lần nữa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã làm sống lại 3254 câu thơ của Truyện Kiều qua những giai điệu đặc biệt và đầy màu sắc, vừa pha trộn nét huyền bí Phương Đông đậm chất dân giân Việt Nam, nhưng cũng vừa mang những nét hiện đại của Tây Phương hay những nhịp điệu hiện đại của rock.
Sau đây là phần trao đổi về những suy tư khi thực hiện công việc phổ nhạc cho Truyện Kiều:
Giữ gìn văn hóa Việt
Vũ Hoàng: Trước hết, Vũ Hoàng có một câu hỏi với ông là có một động lực nào mà ông bỏ ra những 5 năm trời để phổ nhạc cho một tác phẩm thơ vĩ đại của Việt Nam mình như là Truyện Kiều?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Thưa chuyện này có lẽ cũng là định mệnh thôi. Tại vì trong nhà có một quyển sách Truyện Kiều rất là mục nát và mình cũng không biết quyển sách này là bói Kiều, nhưng mình chỉ dán lại thôi, lúc dán lại xong xuôi đem quyển sách để lại tủ sách nhưng có linh tính, trở ra phòng khách và đọc lại Truyện Kiều. Khi đọc đến câu 890 thì thấy “Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người” thì số phận của mình cũng giống như vậy, tất cả những người Việt Nam hải ngoại, sống nhờ đất khách, khi chết thì cũng chết ở đây. Từ đó, xúc động quá mình muốn làm ra tiếng nhạc, để cho mai sau này, thế hệ trẻ không quên lãng Truyện Kiều. Bước đầu tôi không nghĩ đến danh lợi, đến tiền bạc. Chuyện tôi làm như vậy từ năm 2005.
Vũ Hoàng: Vâng thưa ông, ông bỏ công sức của mình ra những 5 năm để hoàn tất việc phổ nhạc, sáng tác đến 77 bài hát, nhưng điểm đặc biệt là vẫn giữ nguyên được lời chính của Truyện Kiều. Khi mà sáng tác như vậy, thì ông có gặp những khó khăn gì không?
Kỹ sư - nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, viện sĩ hàn lâm viện Âu Châu, người đã bỏ ra 5 năm để phổ nhạc toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ rất là khó khăn. Tại vì khi ra đĩa số 1, rất nhiều người gọi điện thoại hỏi sao ông không chịu đổi lời của ông Nguyễn Du, không làm cho nhạc hay hơn, tại sao ông giữ song thất lục bát đúng như vậy. Nhưng Thiện trả lời nói là khi ông Nguyễn Du đặt 3254 câu thơ đã đắn đo về chữ, nếu mình đổi chữ, thì mình đi sai hết vần thơ, mất hết tuyệt tác của ông Nguyễn Du đã được UNESCO công nhận.
Truyện Kiều đó của Thanh Tâm Tài Nhân viết bằng văn xuôi không thành công, sở dĩ UNESCO công nhận là tuyệt tác áng văn hay “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.” Nếu mình đổi một chữ nghĩa là mình đi sai con đường, thành ra trong 3254 câu thơ, mình không có quyền đổi bất kỳ một chữ nào.
Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn nhạc sĩ Thiện đã có những chia sẻ về việc ông phổ nhạc là 77 bài hát mà vẫn giữ nguyên lời chính của 3254 câu Kiều. Vũ Hoàng thấy có một điểm đặc biệt nữa là trong những bài hát ông phổ nhạc là thấy ông sử dụng chất liệu là nhạc dân gian rồi cả những chất liệu gọi là âm hưởng tân thời bây giờ. Ông có thể chia sẻ vì sao mà ông có thể sử dụng nhiều chất liệu khác nhau để tạo nên sự phong phú khi mà ông phổ nhạc cho Truyện Kiều?
Về những tháng sau này, thì rất nhiều trường học Việt Nam, thầy cô giáo và học sinh cám ơn Thiện, nói từ khi ông Thiện phổ nhạc Truyện Kiều, chúng em học Truyện Kiều rất là dễ dàng, thấy là mình đã đóng góp phần nào cho văn hóa Việt Nam.
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Vâng, câu hỏi của Vũ Hoàng rất hay. Tại vì trong 6 tháng trước khi phổ nhạc Truyện Kiều, thì đầu tiên Thiện phải thấu hiểu Truyện Kiều, đọc đi đọc lại, trong 6 tháng, Thiện nghiên cứu thì thấy là tại sao Truyện Kiều được UNESCO công nhận là di sản của nhân loại, tại sao mình không làm nhạc của nhân loại, tại sao mình làm nhạc Việt Nam không thôi.
Từ đó Thiện nghiên cứu và ra 7 CD, mỗi CD có 11 bài, rồi chia ra, CD số 1 Thiện chú trọng nền nhạc dân tộc Việt Nam, CD số 2 Thiện chú trọng nhiều về Âu Châu, đĩa thứ 3 là Âu Châu phía Đông, đĩa số 4 chú trọng nhiều hơn nhạc về đảo, đĩa số 6 là nhạc rất kích động như rock and roll, đĩa số 7, Thiện quay trở về quê hương với nhạc cổ truyền Việt Nam nhưng tân thời hơn đĩa số 1.
Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn ông đã có những chia sẻ để thấy được là ông đã dành ra rất nhiều tâm huyết. Câu hỏi cuối, ông muốn chia sẻ thêm bất kỳ điều gì để thính giả hiểu hơn về việc mà ông bỏ công sức để phổ nhạc cho tác phẩm Truyện Kiều không?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ tình cơ thôi, về những tháng sau này, thì rất nhiều trường học Việt Nam, thầy cô giáo và học sinh cám ơn Thiện, nói từ khi ông Thiện phổ nhạc Truyện Kiều, chúng em học Truyện Kiều rất là dễ dàng, thấy là mình đã đóng góp phần nào cho văn hóa Việt Nam. Học Truyện Kiều qua âm nhạc, lời văn vô người dễ hơn là cầm cuốn sách đọc, có thể trẻ em nghe CD 5-10 lần là thuộc bài, đó là một sự đóng góp về văn hóa Việt Nam cho những trẻ em sau này.
Vũ Hoàng: Thưa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, thay mặt cho thính giả của đài ACTD, Vũ Hoàng cám ơn ông rất nhiều đã chia sẻ những thông tin cũng như những tâm tư của ông khi ông muốn gìn giữ gọi là một phần của văn hóa Việt Nam của mình cho thế hệ trẻ về sau, vâng, cám ơn ông rất nhiều.

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

náo nức hội trăng rằm




náo nức hội trăng rằm 
(mến tặng nhà văn Hồ Trường An và những ánh trăng)

náo nức người ơi! náo nức đời 
náo nức như thời vượt trùng khơi 
náo nức như tuổi chờ xuân tới 
vỗ văn thơ náo nức từng lời 

rót đầy nhé vào nhau náo nức 
những tiếng cười trong mắt long lanh 
như chưa từng một lần biết khóc 
như chưa từng nghe đời lầm than 

náo nức người ơi - hội trăng rằm 
với thơ văn, với tình thân thương 
như thảo nguyên xanh thơm cỏ mới 
mỗi ý lời, mỗi độ sắc hương 

uống nhé anh em, rượu hồng náo nức 
thấm chân tình bút mực thơ văn 
đam mê trỗ hoa đàm giữa ngực 
ngát hương quê vừa lúc trăng về 

trăng mọc phương Đông, lặn trời Tây 
trăng mọc trời Tây, lặn phương Đông 
vẫn mãi sáng ánh hồng trong mắt 
chứa yêu thương, chữ nghĩa vô cùng 

náo nức người ơi, náo nức say 
nghe tình thơ hát giữa tim này 
với trăng, với cả hồn dân tộc 
chuyển mạch từ quá khứ vào mai 

tạ ơn đời! tạ ơn lòng trăng 
văn thơ đi qua bao thăng trầm 
mỗi lời ý một vầng tỏa sáng 
giữa đêm vui náo nức hội trăng rằm!(*) 

Cao Nguyên 
__________________________ 

(*) náo nức hội trăng rằm 
Bút khảo của Hồ Trường An viết về 7 cây bút: 

Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội - Bình Nguyên Lộc 
Vi Khuê - Trương Anh Thụy - Nguyễn Thị Thụy Vũ 
Trần Bích San - Nguyễn Thị Ngọc Dung 


Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

Tương Tri



Tương Tri

Cao Nguyên Việt là bút hiệu của Cao Nguyên trước năm 1975 với tác phẩm "Di Bút Từ Mặt Trận" . Trên hành trình chữ nghĩa từ hồi tưởng đi về tương lai trong tinh thần Nhân Bản. 

Trang Facebook này, chúng tôi muốn giới thiệu đến quý thân hữu và bạn khắp nơi những Tác Phẩm của riêng mình như: THAO THỨC, HÀNH TRÌNH NHÂN ÁI, NHÀ VIỆT NAM cùng các CD và Video Thơ Nhạc.

Mong được chia sẽ cùng quý anh chị em tâm tình một người con của Mẹ Việt Nam luôn hướng về quê hương yêu dấu với hoài vọng phục hưng một quốc gia thanh bình và nhân ái
Trân Trọng, 
 Cao Nguyên (Cao Nguyên Việt)

@

Tương tri là những dòng nghĩ thuần thành dẫn vào Văn và Thơ tôi. Mở ra niềm vui vực tôi đứng lên giữa cuộc đời có quá nhiều phế tích. Những phế tích của nguồn cội yêu thương bị chủ thuyết hiện sinh tẩy xóa và bào mòn nhân bản.
Vì khát vọng phục hưng nhân bản, phải đánh thức niềm tin từ điêu tàn hoang hóa. Nên những phế tích hóa văn thơ thành ngôn từ chân thiện. Với vai trò của người cầm bút tri thức. Chữ nghĩa tôi phải lên đường du thuyết đất trổ mùa xanh, vượt lên trên khắc nghiệt của căn nguyên phế tích.
Hồn Tổ Quốc ngậm ngùi bay vất vưởng trên hành trình khiên cưỡng lưu vong, sử thi thêm một lần bi hận. Sự bi hận truyền kiếp trong dòng sinh tồn dân tộc qua những cột mốc thời gian lũ lượt từng đoàn người rời bỏ quê hương đất tổ để tìm sống thoát khỏi bạo quyền hiểm ác và thâm độc.
Nếu người hỏi: Viết để làm gì, và viết cho ai? Xin thưa: Trước tiên viết cho tôi để thỏa mãn cá tính muốn thoát ly các vòng xoắn của chủ thuyết độc tôn khắc kỷ. Viết để chữ nghĩa tự khẳng định mình qua gian truân của dòng sống.
Giữa chuỗi thời gian truân chuyên, đôi khi chọn dịp nhàn cư, khoát y trang lữ khách thả bộ về nguồn giữa chập chùng sương tuyết lạnh xứ người. Khi xuyên qua trũng buồn nhân thế, tâm khách không khỏi chùng, chỉ vì thương quê sữa trộn máu đào, mà lòng nôn nao hướng về cố thổ . Dẫu biết phải đi qua những vùng hoang địa, chỉ còn tro bụi ghi dấu ấn một thời binh lửa. Mồ hôi và máu đã khô dưới bao mùa lá đổ.
Khi đứng giữa ranh giới quê người - quê ta, khách mới thấy hết nỗi cô đơn. Như cái thân đứng trên cái bóng của chính mình ngã xuống vệ đường giữa hai ngả đông – tây. Khách lẩm bẩm: Đúng ta vừa là khách của quê người, vừa là khách của quê ta. Nản lòng chùng bước, khách ghé vào lữ quán uống một tách trà may ra tìm được chút hương quê.
Chiều rơi, trà nhạt, tình chơi vơi. Kẻ đến người đi họa hoằn lắm gặp nhau bằng nụ cười quan ải đồng cảm nhìn áng mây trôi về phương trời đã một thời lặng nghe gió hú trong tầm đạn bay xé toạc tình người. Khách chợt thèm một bát rượu cay và ngã mình vào chỗ ngồi vừa khuyết để được say. nghe âm vang lời sử kinh trong cổ thi:
phải chi ngày chẳng mệt nhừ
đêm nghe tình hát mộng từ chân duyên
quên đời vừa ngấp nghé nghiêng
chỉ hình đối bóng mà huyên thuyên lời
phải chi ngày dợm tốt trời
đêm dư sức vượt đời khơi khơi buồn
tha hồ thơ nõn nà buông
dọc theo thiên lý ngựa giòn vó qua
phải chi ngày góa phụ xa
đêm gom thư cảo ta bà đốt chơi
tàn tro chôn khuất lệ ngời
phẳng lì bia đá nhạt lời di ngôn
phải chi mai ửng trời hồng
bạn-ta đối ẩm ngẫm dòng cổ thi
rảnh tâm thăm cuộc triều nghi
ngắm trăng văn hiến tương tri khói trầm!

Cao Nguyên

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2019

Cẩm Nang Hội Nghị Thống Nhất Chính Tả Tiếng Việt

Cẩm Nang Hội Nghị Thống Nhất Chính Tả Tiếng Việt 


Cách đọc:

- X out Quảng Cáo, mở rộng cho đễ đọc, nhấn mũi tên bên phải để đọc tiếp; mũi tên bên trái để quay trở lại. 
- Hoặc bấm vào số trang hình tròn bên dưới tập sách. Hoặc:
- Mở Mục Lục, chọn trang, bài nào, tác giả nào mà quý vị muốn tham khảo... Nhấn vào kính lúp để tìm; hoặc đánh số vào khung đen góc phải trên cùng rồi đánh số trang muốn tìm vào đo, nhấn GO.

Yên Sơn Trương Nguyên Thuận 

TRẠI HÈ 2019 Với Chủ Đề HƯƠNG QUÊ

TRẠI HÈ 2019 Với Chủ Đề “HƯƠNG QUÊ” CỦA HỘI KẾT ĐOÀN Tổ Chức Tại Prince William Forest Park, Triangle, Virginia

Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2019

Người việt nam hèn hạ

Nhạc sĩ Lam Phương

Nhạc sĩ Lam Phương 


Ra đời dưới một ngôi sao xấu, đầu thai lầm thế kỷ, sinh bất phùng thời... Có ai đó đã viết về những năm tháng đầu đời của Nhạc sĩ Lam Phương như vậy.
Thế rồi cậu bé thiếu may mắn Lâm Đình Phùng (tên thật của Lam Phương) phải rời quê nghèo ở Rạch Giá, lên Sài-Gòn tìm nơi nương tựa ở nhà một người thân để được cắp sách tới trường, và chỉ vài năm sau đã trở thành Nhạc sĩ Lam Phương, ở tuổi 15. Và, sau hơn 60 năm sáng tác, đã dâng hiến cho đời trên 200 nhạc phẩm.
Dòng nhạc dồi dào, phong phú ấy đã được hàng triệu người nghe, ưa thích, trong suốt mấy thế hệ thính giả ở miền Nam Việt Nam, và đã đưa tên tuổi Lam Phương lên cao trong bộ môn âm nhạc Việt Nam.
“Cuộc đời, ái tình, và sự nghiệp” của Lam Phương đã được nhiều người viết trong suốt bao nhiêu năm. Bây giờ còn gì để viết về Lam Phương, ở những năm tháng cuối đời của ông?
Những gì cần viết, đáng viết về Lam Phương, người khác đã viết hết cả rồi. Nào là Duyên Anh, Nguyễn Ngọc Ngạn, Nam Lộc, Vũ Ánh, Ngô Thụy Miên, Trần Quang Hải-Bạch Yến, Quyên Di, Phan Ni Tấn, và còn nhiều người khác có thẩm quyền về âm nhạc đã cùng nhau tạo thành một bản hòa tấu vinh danh Lam Phương:
“Trong nền âm nhạc Việt Nam, hiếm có nhạc sĩ nào được phong cách sáng tác đa dạng như Nhạc sĩ Lam Phương, từ những ca khúc rất ‘bình dân’ cho đến những bản tình ca, tình tự quê hương, nhạc chinh chiến rồi đến những dòng nhạc có âm hưởng rất trữ tình, lãng mạn và xót xa như: Một Mình, Cỏ Úa, Phút Cuối, Mưa Lệ.
“Nếu dòng nhạc Lam Phương dễ dàng hòa nhập vào lòng người qua những ngôn từ đơn sơ, sơ mộc mạc và chứa đầy cảm xúc hòa cùng những giai điệu lưu luyến và êm ái thì chính cá nhân người nhạc sĩ tài hoa này cũng dễ dàng chiếm trọn cảm tình mọi giới bằng một gương mặt hiền hòa đôn hậu, một nụ cười và giọng nói nhỏ nhẹ thân tình đó đã biểu hiện của sự tương đồng giữa những ca khúc với bản chất, tình cảm và con người của nhạc sĩ.
Có lẽ những ca khúc đó đã phản ảnh một phần nào cho chính cuộc đời của tác giả. Đời sống của Nhạc sĩ Lam Phương đã trải qua những thăng trầm trong cuộc sống nhưng ông đã không ngừng phấn đấu trong mọi hoàn cảnh để mang đến cho đời những bản nhạc bất hủ. Mỗi chặng đường trải qua là một gian nan thử thách trong cuộc đời của nhạc sĩ, nên nhạc sĩ đã mang đến cho chúng ta những tác phẩm để đời cho kho tàng âm nhạc Việt Nam với trên 200 nhạc phẩm đầy ấn tượng trong suốt hơn 50 năm sự nghiệp sáng tác.” (LAM PHƯƠNG, Nhạc và Đời)
Lam Phương rất xứng đáng với những tán dương và cảm tình của thính giả dành cho mình, và không còn khía cạnh nào trong “cuộc đời, ái tình, và sự nghiệp” của Lam Phương chưa được viết ra.
Thế thì bây giờ viết cái gì? Tôi nghĩ rằng những người đã viết về Lam Phương đã bỏ sót, không nói tới một điều, hay có người nói tới nhưng chỉ thoáng qua, coi như không quan trọng, trong khi chính điều đó đã nâng “dáng đứng” Lam Phương và sự nghiệp Lam Phương cao hơn nhiều đồng nghiệp cùng thời.
Đó là lập trường chính trị dứt khoát, thái độ phân minh của Lam Phương giữa cuộc tương tranh quốc/cộng mà ông đã bày tỏ qua nhạc phẩm Chuyến Đò Vĩ Tuyến vào năm chưa đầy 20 tuổi, khi Hiệp Định Genève được ký‎ kết, chia đôi nước Việt Nam. Chính nhạc phẩm này và vài nhạc phẩm khác có liên quan đến tình hình đất nước, được viết vài năm sau nhạc phẩm đầu tay Chiều Thu Ấy, đã thực sự xác định thiên tài âm nhạc của Lam Phương và đưa tên tuổi của ông lên vị trí xứng đáng cho đến ngày nay.
Thực vậy, qua những nhạc phẩm chứa chan tình tự dân tộc, ngợi ca đời sống an bình, tự do của người dân miền Nam, nói lên tình quân dân cá nước, ông đã xác định chỗ đứng rõ ràng trong cuộc chiến giữa hai miền Nam/Bắc. Không có những giọng điệu hung hăng, sắt máu kiểu “phanh thây, uống máu quân thù…”, nhạc và lời của Lam Phương lúc nào cũng hiền hòa, êm nhẹ, trong sáng, nhưng không ai có thể lầm lẫn chiến tuyến của ông. Chính đặc tính đó đã làm Lam Phương khác với Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Văn Cao…
Khi quốc nạn 30.4.1975 xảy ra, Lam Phương đã may mắn rời Việt Nam trước khi Sài-Gòn rơi vào tay cộng quân. Ở hải ngoại, Lam Phương tiếp tục sáng tác, gắn bó với Cộng đồng người Việt ti nạn, viết ra những bản nhạc với xúc cảm chân thành, đa dạng, phong phú, làm giàu thêm di sản âm nhạc của ông.
Càng trải qua những đổi thay của thời thế, của cuộc sống, và càng sáng tác, Lam Phương càng chứng tỏ cái nhân bản hiền lương bất di bất dịch của ông: yêu đời, yêu người, trung hậu.
Những năm sau này, nhiều người trong giới nghệ sĩ ở hải ngoại từng thành danh và làm nên cơ nghiệp trong xã hội tự do ở miền Nam trước đây cùng một thời với Lam Phương đã theo nhau trở về Việt Nam làm ăn, sinh sống, vì nhiều lý‎ do khác nhau. Nhưng, họ giống nhau một điều: họ đã vứt bỏ cái áo khoác tị nạn cộng sản, mà nhờ đó họ được nhận cho định cư tại một nước tự do, được cung cấp những trợ giúp cần thiết và cơ hội được sống với nhân vị, nhân phẩm, và nhân cách của mỗi người.
Không ít người trong số đó, sau khi về Việt Nam, đã trở mặt và có những lời nói đáng tiếc khiến cho hình ảnh nhiều “thần tượng” đã sụp đổ trong lòng những kẻ từng ái mộ họ. Và họ đã nhận được sự phỉ nhổ của công luận.
Trong một dịp sang niềm Nam California gần đây, tôi đã tới thăm Nhạc sĩ Lam Phương. Trong câu chuyện thân tình, tôi hỏi ông:
- Trong những năm qua, nhiều nghệ sĩ ở hải ngoại đã kéo nhau về Việt Nam kiếm sống. L‎ý do nào khiến ông không về?
- Làm sao mà trở về được khi mà mình đã chống lại họ hai mươi mấy năm, lập trường rõ ràng qua những bản nhạc đã viết. Từ ngày rời quê hương đi tị nạn, đời sống của tôi là ở ngoài này, là quê hương thứ hai với Cộng đồng người Việt. Bà con mình ở đây quá thương tôi và hết lòng giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn. Tôi cũng thương mọi người ở đây, tôi không thể phản bội, tệ bạc với mọi người, làm buồn mọi người.
- Thế chúng nó có cho người tới rủ rê, thuyết phục, hay mua chuộc ông không?
- Có chứ! Họ tới đây hoài nhưng thấy không đi tới đâu nên hồi này thôi rồi.
- Chúng nó không dùng tiền mua chuộc ông à?
- Có chứ. Như nói tôi về sẽ cho vô biên chế, như “nghệ sĩ nhân dân”, lãnh lương suốt đời.
- Ông tin không?
- Tin gì! Họ chỉ dùng sự trở về của mình để tuyên truyền. Một khi vô tròng rồi, có chuyện gì thì biết ngỏ nào ra?
- Ông cũng không bao giờ “đi” Việt Nam à?
- “Về” với “đi” thì khác nhau cái gì?
- “Về” là về ở luôn, là giã từ quá khứ, là trở thành công dân của nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN”. Còn “đi” là đi Việt Nam vài ba tuần hay một hai tháng với tư cách công dân Mỹ rồi lại trở về Mỹ.
- À. (Lam Phương cười hiền) Tôi không về mà cũng chưa bao giờ đi Việt Nam.
- Ông không nhớ quê hương à?
- Nhớ lắm chứ! Nhớ từ góc phố, từ con đường, từ gốc me… Nhưng tôi nghĩ bây giờ trở về, hay đi Việt Nam, nhìn cảnh và người ngày nay ở bển chỉ làm cho tôi cảm thấy buồn hơn là vui. Chừng nào có thay đổi, có tự do, đời sống của dân mình an vui như ngày xưa, tôi mơ ước ngày đó, và sẽ trở về, nhưng… bây giờ tôi già rồi, biết có sống được tới ngày đó hay không.
- Ngày đó chắc chắn sẽ đến, và không ai có thể biết bao giờ sẽ đến. Có thể đêm nay, ngày mai. Khối Cộng sản Đông Âu và Liên-Sô đã tan biến bất ngờ hai mươi bảy năm trước. Bốn nước cộng sản tàn dư còn lại đáng lẽ đã phải sụp đổ theo từ lâu rồi.
- Cũng mong ngày đó sớm xảy ra để tôi có thể trở về.
- Ông còn tiếp tục viết nhạc, còn sáng tác không?
- Độ này yếu nhiều do ảnh hưởng của vụ đứt mạch máu não năm 1999 và tuổi tác ngày một cao. Tôi đã cố gắng phấn đấu tập tành để phục hồi nhưng cũng được phần nào thôi. Mỗi khi ngồi lâu, viết nhạc và suy nghĩ, cái đầu đau nhức ghê gớm nên bác sĩ khuyên tôi nên ngưng sáng tác.
- Bản nhạc cuối cùng mà ông đã viết xong là bài gì?
- Bài “Hạnh Phúc Mang Theo”, trong đó tôi viết về ngày ra đi rời khỏi thế gian này tôi sẽ mang theo những kỷ niệm vui trong cuộc đời với những người đã chia sẻ cùng tôi những ngày tháng hạnh phúc…Hân hoan ra đi để những người ở lại không cảm thấy buồn khổ, hối tiếc, hay ăn năn gì cả..
Tôi nghĩ đó chính là cái còn lại để viết về Lam Phương: cái đã làm nên con người ông, làm nên những lời ca tiếng nhạc của ông, đã giúp ông vươn lên từ đứa bé “ra đời dưới một ngôi sao xấu, đầu thai lầm thế kỷ, sinh bất phùng thời”, và giúp ông vượt qua những khó khăn trở ngại trên đường đời. Đó là nhân cách và tâm hồn cao đẹp của ông.
Với Lam Phương, nhạc là đời, đời sống gần gũi quanh ta với những tiếng nhạc lời ca trong sáng, dễ hiểu dễ nhớ, đôi khi dí dỏm, đi thẳng vào lòng người, không cầu kỳ, bóng bảy mà trống rỗng. “Đời” đây còn là đạo lý ở đời, nghĩa vụ giữa người với người, giữa người với non sông đất nước.
Lam Phương, người nhạc sĩ yêu đời, yêu người, yêu nước, đã làm tròn sứ mạng được định mệnh giao phó.
Virginia vào hè 2017
Sơn Tùng