CHUYỂN BIẾN TRONG KHÔNG GIAN
Về Nguồn
Tiếng Gọi Của Tuổi Trẻ Việt Nam Trên Đường Về Với Cội Nguồn Dân Tộc
Thứ Năm, 29 tháng 10, 2026
CHUYỂN BIẾN TRONG KHÔNG GIAN
VÀ HỒN THƠ CAO NGUYÊN
Thưa Quý Vị:
Hôm nay chúng ta tới đây để gần gũi, hội nhập không gian và hồn thơ CAO NGUYÊN.
Riêng việc Tác Giả dùng bút hiệu CAO NGUYÊN đã hội nhập một lãnh vực sáng tạo rất thi vị, khi ẩn dụ và hoán dụ hai ý niệm CAO và NGUYÊN trong nguồn phát khởi thi ca.
CAO, nghĩa Hán Việt là ở phía trên, thanh cao, hàm ý sự vượt trội.
NGUYÊN có nghĩa là trọn vẹn, nguyên vẹn, hoàn chỉnh, đầy đủ, không thiếu sót.
Do đó, bút hiệu CAO NGUYÊN đã ngấm ngầm phác hoạ sự lồng chiếu và chuyển biến của hai phạm trù “cao” và “nguyên” trong quá trình sáng tạo thơ, từ ngoại cảnh tới nội tâm của tác giả.
Về thuần lý, chúng ta có thể nghĩ rằng với bút hiệu CAO NGUYÊN, thi sĩ sẽ hoàn tất những chủ đề cao siêu, những ca tụng niệm vĩ đại, theo cảm hứng vuông tròn, tích cực, hoàn chỉnh, trọn vẹn.
Nhưng không, thơ Cao Nguyên luôn luôn ở thế động, luôn luôn chuyển biến giữa hai phạm trù “Cao” và “Nguyên, luôn luôn đối mặt giữa kết hợp và ly tán, đối nghịch trong một không gian mở, vô định, vô thường.
Có lẽ hiện tượng lồng chiếu đa dạng đa nguyên trên phát xuất đầy đủ ngay trong thi phẩm THAO THỨC, Dòng Thơ Lưu Vong
(Cao Nguyên, Cội Nguồn 2014).
Ở đây, phạm trù “CAO” được xác định một cách đa dạng, khi hiển nhiên, thơ Cao Nguyên hội nhập mật thiết với vận mệnh quê hương xứ sở, với vũ trụ Đất Việt, với thân phận người dân trong nước.
Ngọn bút tôi suốt một đời muốn viết
về quê hương yêu dấu Việt Nam”
(“Lửa Tim”,Thao Thức, trg 23)
Về mặt nhận định thời cuộc, từ nguồn gốc tới dòng tiến hoá lịch sử cận đại, đất Mẹ Việt Nam là dải sơn hà, là núi và sông, là biển và cát kết tụ thành mẫu mực âm dương linh thiêng, với “truyền thuyết Âu Cơ, kẻ lên non, người ra biển”, thì ngay từ khởi điểm hồng hoang đã khơi mào sự tách biến, chia lìa trong không gian và thân phận dòng Bách Việt, và ngay trong thân phận người Việt chúng ta trong dòng lịch sử biến hoá, xung đột, đày đoạ.
Thật vậy, trong giai đoạn cận đại, từ 1954 tới 1975, đất Mẹ Việt Nam, vũ trụ Đất Việt từ cao siêu linh hợp, nay xiêu tàn, hoang dã, diệt vong:
“Đất vỡ mảnh, đời lầm than quá đỗi
hồng hạc bay cánh mỏi nhớ rừng ngô
trên phế tích quách thành chen cỏ rối
người trầm ưu, mùa đợi gió hong mồ
(Thi Sử, THAO THỨC…trg 16)
Giang sơn đó từng là “Trường Ca Bi Tráng”,
Bạn chém sau lưng
Kẻ thù đâm trước ngực
những vết thương nhức nhối không ngừng
vui thế nào, nước mắt cứ rưng rưng?
Vỡ tất cả dưới khung trời huyền thoại
hồn chết điếng khi tầm tay với tới
chạm giữa hư không, dòng máu Lạc Hồng!
Triệu người chết vì những lời phản bội
Hội chứng Việt Nam chưa ngừng rỉ máu ...
Giang sơn đó nay điêu tàn
Vì ngọn lửa hận thù
đốt Trường Sơn linh hiển
đập vỡ tiếng cồng chiêng
Giàng ơi! Và Giàng ơi!
(Tháng Ba Say, THAO THỨC, Trg 39)
Về thân phận con người trong tai ương chinh chiến, phạm trù cao siêu tổ quốc, khi nhận ra, hiểu tới, nghe thấy được, chỉ là:
tiếng vỡ của xương, tiếng rách của da
tiếng thét của tim, của phổi
tiếng thở nấc trôi tuột qua hoang phế
tiếng nghẹn im lặng
xếp lớp dưới từng mảng
thời gian đặc quánh…
(Ấn Tượng, THAO THỨC…trg 17)
Thân phận con người lâm chiến, lâm nạn nay vẫn là
Sẹo đã lành mà vết thương nóng hổi
đầu đạn găm, còn bốc khói trong da
ta mơn nhẹ nghe hằng hà tiếng vỡ
chiến trường xưa mà ngỡ mới hôm qua
(“Vết Sẹo”, THAO THỨC…trg 26)
Những giọt lệ pha máu
từ tim
chảy xuyên qua mắt
cay đắng suốt trăm năm
(Giọt Lệ Hồng . THAO THỨC…Trg 31)
Có gì buồn hơn, Mẹ vì nước khóc
bốn nghìn năm khai quốc, núi sông nghiêng
xương chất đống, máu chảy tràn mặt đất
đời đắng cay, người chi biết căm hờn
Có gì buồn hơn, Mẹ vì đời khóc
Mua lợi danh, người rao bán linh hồn
(Có Gì Buồn Hơn, THAO THỨC…Trg 60)
Như vậy, tới đây dòng thi ca Cao Nguyên hầu như đã mất đi bản thể “Nguyên” vẹn, đầy đủ sinh lực trong không gian đất Việt, trong thân phận hiện sinh dân tộc Việt.
Trong lịch trình tiến hoá nền văn minh hiện đại, thân phận con người rất bấp bênh. Về đại cuộc, chiến sự Việt Nam và những điêu linh hãm hại những dân tộc nhược tiểu trên thế giới hiện đại bắt nguồn từ sự xung đột siêu cường quốc, giữa quyền lợi khối tài phiệt quân sự (industrial military complex) và ý thức hệ đảng phiệt vô sản quốc tế.
Giải pháp và hy vọng tồn sinh của Việt Nam và của cả nhân loại là duy trì và khởi phát nền văn hoá đặc trưng khả ứng, khả thi của từng dân tộc, của từng hoàn cảnh nhân bản tự quyết.
Trong thế tận cùng của cuộc sống, khi con người mất đất, mất tự do, mất an sinh tự tại, mất chính nghĩa tôn giáo; khi cuộc đời lưu vong là cánh cửa bên đóng, bên mở, thì cuộc sống quyết liệt còn lại vẫn tiếp diễn bằng trí tuệ và tâm linh, bằng hy vọng và tình thương nhân loại, bằng kiến thức và sáng tạo nhân văn.
Cảm ơn tất cả những ai
Là người làm Thơ, viết Văn, viết Sử
Đã cho tôi những mẫu Ấn Tượng
giữa đời
Trước và nay
Phơi bày những mẫu Ấn Tượng
dưới ánh sáng thế gian
mỗi Ấn Tượng như một chứng tích
đặt quanh cột mốc thời gian
Nhào nắn những Ấn Tượng
Trưng bày trong một góc Sử Thi
Cũng chỉ vì muốn
Con cháu có dịp đi qua
ngắm nhìn và hiểu…
(Ấn Tượng , THAO THỨC, trg 17-19)
Như vậy, ở mặt phản diện hồi lực, cho chính mình và thế hệ mai sau, thi ca Cao Nguyên vẫn dẫn giải một tia nắng đột phá bóng tối của quá khứ, để hội nhập luồng ánh sáng nhân văn và tâm linh của nhung nhớ, của nuối tiếc, của sáng tạo, của trọng vọng.
Với những cơ hội đó, phạm trù “NGUYÊN” bỗng hội nhập kích thước cao siêu, linh hiển của nguồn gốc tồn sinh, khi con người dù tàn phế, bất toại, vẫn nhung nhớ đất mẹ như một không gian cao đẹp, gan vàng dạ sắt, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách:
Nhớ từ đỉnh Trường Sơn hùng vĩ
đến chân đê ruộng nước U Minh
dẫu mỗi chặng đi, từng cơn bão nổi
giữa lửa tin yêu vượt nỗi điêu linh
Thương nhớ quá một quê hương bất tử
mẹ hiền ơi! Sông núi Việt Nam ơi!
Tiếng gọi nhớ từ đứa con viễn xứ
vút lên trời bằng lưa của tim tôi!
(“Lửa Tim”,THAO THỨC, trg 23)
Con người trở thành trục nối từ đổ vỡ tới nguyên vẹn; từ bất toại, tới tình yêu chân thật, hướng thượng, tới lý tưởng toàn mỹ.
Rủ em trẩy bước về nguồn
Hong lên cho rực sáng hồng tình quê
cầu tre rung nhịp đi về
võng khuya kẽo kẹt vỗ về đời con
Vẫn là nước đẹp non xinh
Cho quay quắt nhớ bóng hình Việt Nam
tặng em tình khúc tơ tằm
ươm thân óng ả con Rồng cháu Tiên.
(“Về Nguồn”, THAO THỨC,…trg 38)
Cảm ơn Mẹ
Đã cho con được gặp
những tấm lòng thao thức
giữa hôm nay
trên phố người
ly rượu đắng trên tay
ba mươi năm
chưa bao giờ uống cạn!
(“Những Tấm Lòng”, THAO THỨC…Trg 62)
Thơ Cao Nguyên vừa là nhận định sáng suốt, hiện thực về mặt trái của cuộc sống quá văn minh máy móc, quá tham lam, quá độc ác của quyền lực vị kỷ phi nhân, phi nghĩa. Đồng thời, vừa là dòng thao thức kết tụ thành cao vọng tự chủ, tự tin về sự sáng suốt của tư tưởng chân chính, của tình người, như một điểm son cao siêu, nguyên vẹn.
Phải chăng THAO THỨC, Dòng Thơ Lưu Vong của Cao Nguyên là một song đề lưỡng thể, giữa mất và có, giữa thất vọng và cao vọng, giữa say và tỉnh trên con đường diễn tiến tới chân thức, tới phẩm giá nhân bản, nơi chúng ta chuyển lực gần nhau, từng bước một, từng hy vọng vô thường, mở rộng.
Khi chúng ta còn thao thức, còn ý niệm, còn ao ước, còn hy vọng, không gian sinh tồn chúng ta vẫn còn vượt trội, vẫn còn nguyên vẹn trong tâm người.
Tiến Sĩ LƯU NGUYỄN ĐẠT
(Diễn giả trong buổi giới thiệu tác phẩm của Cao Nguyên)
---
Phóng viên BẠCH MAI / Đài Truyền Hình Hoa Thịnh Đốn -
phỏng vấn Cao Nguyên và Thân Hữu :
Thứ Sáu, 16 tháng 10, 2026
Cà Phê Dinh Điền
Cà Phê Dinh Điền
bọn tôi ngồi đây dưới cội thông già
những cội thông nhắc bao điều kỷ niệm
sau hơn bốn mươi năm thay lá đổi da
như bạn và ta, đã bao lần thay nơi trú ngụ
vẫn cứ nhớ về những đỉnh núi xa
qua Chư Pao, đến đồi Đức Mẹ
đứng từ Hàm Rồng thấy đỉnh Pleime
những dấu chân ta trên đường khô nức nẻ
còn đọng hồng giọt máu anh em
uống đi chứ - ngậm ngùi chi quá khứ
giọt cà phê nào cũng đắng, nhưng ngon
như những tháng năm qua - rất buồn, mà đẹp
vẫn nhiệt nồng trong nỗi xót xa
từ lúc bước vào cuộc hành trình cay nghiệt
ta đã đi, chân chạm lắm thương đau
tim đã vỡ với bao lần ly biệt...
uống hết đi, mùi cà phê đã nhạt
đêm đang vào, sương xuống lạnh vai
hãy cất giữ những buồn vui thuở ấy
làm của hồi môn cho con cháu chúng mình !
Thôi tạm biệt nhé - cô chủ nhỏ
"Em Pleiku má đỏ môi hồng".
Cao Nguyên
---
Music By Suno
Thứ Tư, 14 tháng 10, 2026
Tâm Cảm Đồng Hành
Tâm Cảm Đồng Hành
Khởi đầu từ lời giới thiệu của anh Song Nhị về tập thơ "Thao Thức":
Đã có nhiều tác giả viết về cơn rúng động thần kinh của hàng triệu người dân miền Nam và hàng trăm nghìn người lính về biến cố ngày 30 Tháng 4 năm 1975. Nhưng cơn chấn động hung hãn về cuộc “lăng trì” một nửa đất nước Việt Nam Tự Do thì cho tới hôm nay tôi mới đọc được sự lột tả chính xác tính chất rợn người của biến cố, qua trái tim ruớm máu của Cao Nguyên trong bài thơ sau đây của anh:
Lăng TrìRơi vang một tiếng nổ bùng
Thắt ngang đất Việt một vòng khăn tang
Vạch tìm trong đống tro tàn
Nhặt lên từng mảnh da vàng còn tươi
Máu loang xé toạc tiếng cười
Ngang lưng vết chém của loài thú hoang
Đồng dao rao hát giữa đường
Sông khô núi vỡ đoạn trường ăn xin
Vong thân chuyển kiếp giật mình
Tôi ngồi khóc giữa tự tình quê tôi
Hỗn mang đời khóc hồn cười
Rong chân du mục xót lời sử thi
Đêm nghe vận nước lăng trì
Ngày xem bia mộ lời ghi vỡ tàn!
Cao Nguyên
Tiếp đến tôi đã viết bài cảm nhận về tác phẩm "Mảnh Da Vàng" của anh Chu Lynh:
Mảnh Da Vàng
Là một người bạn tâm giao trong nhiều năm qua với anh Chu Lynh (Người tổ chức và điều hành nhóm làm phim tài liệu VietNam Film Club), chúng tôi rất tâm đắc về ý tưởng qua những dòng văn của anh gửi vào mỗi tác phẩm phim truyền hình từ sinh hoạt của các hội đoàn người Việt quốc gia hải ngoại đến các phim lịch sử Việt Nam.
Riêng tác phẩm Mảnh Da Vàng anh đang thực hiện bằng chính sự trực diện với những thực cảnh thương đau của một quê hương đã phải rời xa trên hành trình tìm tự do. Bằng việc gom lại những bài viết qua ký ức suốt mấy mươi năm qua làm nên tác phẩm theo dòng văn trong Bi có Thương và trong Thương có Bi. Đã diễn đạt sâu lắng ân tình giữa Đất và Người trên quê hương Mẹ và những vùng đất tự do mà anh đang sống và đến thăm.
Đọc tựa đề tác phẩm, ba chữ Mảnh Da Vàng nhắc tôi nhớ trong bài thơ Lăng Trì của tôi có hai câu:
Vạch tìm trong đống tro tàn
nhặt lên từng mảnh da vàng còn tươi !
Đúng là một sự đồng cảm từ mạch chữ đồng âm thuận nghĩa truyền cảm xúc vào những dòng sử liệu bi thương nhưng đậm tình nhân ái.
Ba chữ "Mảnh Da Vàng" đủ trân trọng về cội nguồn huyết thống mỗi đứa con của Mẹ Việt Nam luôn muốn được truyền tải từ quá khứ đến tương lai nguồn sử liệu viết bởi những chứng nhân và cũng là nạn nhân của một quê hương đau thương.
Hân hạnh giới thiệu cùng quý vi tác phẩm "Mảnh Da Vàng" của tác giả Chu Lynh .
Cao Nguyên
---
Trong thời gian hiện tại, xem lời dẫn về phim "Từ Tro Tàn Chiến Tranh" của đạo diễn Thanh Tâm
Ghi lại cuộc đời, những mất mát và biến cố của Quân, Dân, Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong 20 năm trước và 50 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Từ tâm thức cảm nhận nỗi đau buồn về quê hương và dân tộc Việt Nam, bài thơ "Lăng Trì" tôi viết từ 10 năm trước có 2 câu:
"Vạch tìm trong đống tro tàn
Nhặt lên từng mảnh da vàng còn tươi "
Nhặt lên từng mảnh da vàng còn tươi "
Đã có sự đồng cảm qua tác phẩm văn học và phim ảnh .
Từ nỗi đau chung, những đứa con của Mẹ Việt Nam đã tạo nên những tác phẩm vừa dẫn chứng sự bi tráng của chiến tranh trên quê hương. Đồng thời khắc ghi những đau thương của dân tộc chuyển tiếp về sau cho các thế hệ con cháu biết hành trình chiến đấu bảo vệ quê hương và dân tộc của tiền nhân .
Trân trọng,
Cao Nguyên
Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026
Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026
Trăng, Sao và Sương
Trăng, Sao và Sương
Lần đầu tiên tôi có dịp biết thêm nhiều về Nhà văn, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh khi tôi có dịp phỏng vấn cô và phu quân của cô là Nhà văn Nguyễn Quang trong chương trình Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ Talk Show. Trước đây, tôi cũng có dịp gặp cô trong một vài buổi họp của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé và yếu ớt, vịn tay chồng đến tham dự những buổi họp. Thường thì cô ít khi nào phát biểu, lặng lẽ đến, nghe và ra về.
Tôi có thói quen dành ra vài giờ trước ngày thâu hình để tìm tài liệu về người khách mà tôi sẽ phỏng vấn trong chương trình talk show. Trước đó, nhà văn Nguyễn Quang đã ân cần gửi cho tôi quyển sách "Ốc Muợn Hồn" của ông cũng như quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời của Minh Đức Hoài Trinh" do ông thực hiện.
Mở quyển sách "Văn Nghiệp và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh" , tôi say sưa đọc những bài viết, những hình ảnh về cuộc đời và những sinh hoạt của cô. Càng đọc, tôi càng mến phục và thấy rằng trước đây mình biết quá ít về cô, ngoài những lần gặp mặt trong những buổi họp hay những bài hát được phổ nhạc từ một số bài thơ của cô mà thôi.
Sau biến cố tháng Tư đen năm 1975, Văn Bút Việt Nam bị chính quyền cộng sản bức tử và Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là người đã bỏ nhiều công sức để vận động Văn Bút Quốc Tế (VBQT) công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Tôi rất cảm động khi đọc đến đoạn Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh "quá vui mừng, miệng thì cười nhưng nước mắt không ngừng rơi" khi Bồi thẩm đoàn VBQT tuyên bố với 25 phiếu thuận và 7 phiếu chống, công nhận Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại được chính thức là thành viên của tổ chức Văn Bút Thế Giới trong Đại Hội VBQT vào tháng 7 năm 1979 tại Rio De Janeiro, Brazil.
Không chỉ thành công trong nỗ lực vận động cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh tiếp tục đấu tranh không mệt mỏi cho các nhà văn Việt Nam bị cầm tù trong các lao tù cộng sản với các bài viết, các buổi thuyết trình, v.v. Mặc dầu sức khoẻ sút kém trong thời gian gần đây, cô vẫn sát cánh bên phu quân tham dự các chương trình sinh hoạt trong cộng đồng.
Nhân dịp sinh nhật lần thứ 85 của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ có ý định phối hợp với Nhóm Thân Hữu Văn Bút VNHH và Nhóm Thân Hữu Quảng Ngãi thực hiện một quyển sách để vinh danh những đóng góp của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh trong nền văn học Việt Nam và đặc biệt cho Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại.
Khi biết tôi có ý định phổ nhạc một bài thơ như một món quà sinh nhật dành cho Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Nhà văn Nguyễn Quang đã rất cảm động và ông mang quyển Tập Thơ đến trao cho tôi với lời nhắn nhủ là "thơ của cô Minh Đức Hoài Trinh khó phổ nhạc lắm đó." Xem qua những bài thơ trong Tập Thơ, tôi thấy có một vài bài thơ đã được một số nhạc sĩ phổ nhạc trước đây như bài "Ai Trở Về Xứ Việt" do nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc, "Kiếp Nào Có Yêu Nhau", "Đừng Bỏ Em Một Mình" do Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, rồi đến "Em Về Giữ Lửa" do Nhạc sĩ Trần Quang Hải và Bạch Yến phổ nhạc và trình bày. Bài thơ "Hỏi Mẹ" cũng được phổ nhạc và do chính tác giả là Ca nhạc sĩ Trọng Nghĩa trình bày trước đây. Nhạc sĩ Võ Tá Hân cũng đã phổ nhạc một số bài thơ của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh như "Ai Về Xứ Việt I", " Đợi Em Về", "Gỗ Đá", v.v..
Khi đọc các bài thơ trong Tập Thơ, tôi hiểu ra lời nhắn nhủ của Nhà văn Nguyễn Quang. Phần lớn những bài thơ trong Tập Thơ Minh Đức Hoài Trinh đều chất chứa nỗi niềm trăn trở của người con xa xứ hướng về quê hương Việt Nam thân yêu. Đong đầy trong nhiều bài thơ là những uất ức, những hờn căm, những nghẹn ngào của tác giả về cuộc chiến vừa qua. Những nỗi đau thương, buồn tủi, căm hận, v.v. được khắc họa qua từng chữ, từng câu...Lời thơ tuôn chảy theo cảm xúc của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đôi khi như dòng thác cuồn cuộn tuôn trào, lắm lúc như tiếng nấc nghẹn ngào cho những sự mất mát, những đau thương cho thân phận quê hương với nỗi đau mất nước. Dường như Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh làm thơ để diễn tả cảm xúc của mình, chứ không phải chú trọng chọn lọc những lời văn chương bóng bẩy để thi vị hoá những điều mình muốn nói. Chúng ta hãy đọc một vài tâm tình của thi sĩ qua những vần thơ như sau:
Mình về phá tung gông cùm biên giới
Biên giới tình và biên giới kẽm gai
(Em Về Giữ Lửa)
Ta theo chim đến nghĩa trang Trung Việt
Cậy nắp hòm hôn từng mảnh xương yêu
(Mơ)
Nhưng họ tới, gót chân sắt
Họ đạp, họ chà, họ dẫm,
Thế là hết,
Ngọc ngà cháy sém...
Cây rừng úa héo
(Biết Đến Bao Giờ)
Ngoài tình yêu quê hương, tình mẫu tử thiêng liêng, xen kẽ trong các bài thơ trong tập thơ này là những bài thơ tình yêu đôi lứa. Tôi bắt gặp một bài thơ với một cái tựa khá lạ là "Trăng, Sao và Sương". Chỉ với 4 câu đầu của bài thơ, thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã vẽ lên bố cục của câu chuyện qua hình ảnh của ánh trăng chiếu qua căn phòng và mảnh vườn đơn chiếc:
Ánh trăng chiếu qua song
Xanh xanh xanh mầu trăng trong
Chiếu phòng ai cô độc
Chiếu vườn ai đợi mong
Trong bốn câu thơ tiếp,
Sương khóc trong lòng đêm
Sương trĩu cành lau mềm
Sương thương trăng thui thủi
Sương nhớ mầu sao êm
Hình ảnh hạt sương được tác giả nhân cách hoá, làm chúng ta liên tưởng ngay đến hình ảnh của người con gái đang đau buồn than khóc cho sự ngăn cách kẻ ở người đi. Người đọc tò mò muốn biết thêm tình tiết của câu chuyện và tác giả đã tiếp tục mượn ba hình ảnh của "trăng, sao và sương" để gửi gắm những nỗi niềm tâm sự đó. Nếu như ngày xưa, người thiếu phụ trong Chinh Phụ Ngâm của bà Đoàn Thị Điểm tiễn đưa chồng ra chiến trận và nương theo bóng trăng tưởng nhớ người chồng ở phương xa như qua hai câu thơ:
"Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi.
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên San".
thì cũng với hình ảnh bóng trăng ấy, Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh đã diễn tả tâm trạng của người ở lại trước buổi chia ly:
Trăng ơi và sương ơi
Người ấy sắp xa rồi
Bơ vơ mình trăng lạnh
Một vì sao đang rơi
Người ấy sẽ ra đi
Gió ngàn tung cánh phi
Tương tư ai đâu nữa
Trăng sáng nhiều làm chi?
Và hệ lụy của sự chia cách này đã được thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh khéo léo lồng vào qua hình ảnh của "trăng, sương và sao", với ánh trăng cũng dường như lu mờ đi, ánh sao không còn lung linh nữa và ngay chính những giọt sương cũng nhỏ lệ cho sự xa cách.
Trăng sẽ ngừng rực rỡ
Sao sẽ ngừng long lanh
Khuya nào sương nức nở
Khóc ngay vui mong manh
Tuy trong nỗi đau chia cách, tác giả đã viết lên niềm hy vọng trong một viễn ảnh tươi sáng về ngày đoàn tụ, với hình ảnh của "trăng, sao và sương":
Bao giờ ta gặp nhau
Cho trăng quên buồn đau
Cho sao bừng ánh sáng
Sương thôi mờ khóm lau
Là một người hiền hoà, trầm lặng nhưng mang trong lòng một ý chí cương quyết, một tinh thần lạc quan như chúng ta đã có dịp được biết qua quãng đời hoạt động của Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh trong nhiều thập niên qua, chúng ta mong rằng niềm tin và ý chí lạc quan cho quê hương mà cô đã gửi gắm qua thi phẩm "Trăng, Sương và Sao" cũng như qua nhiều bài thơ khác sẽ sớm trở thành hiện thực với hình ảnh một ngày ánh trăng sao "bừng ánh sáng" trên quê hương Việt Nam không còn bóng cộng thù. Ngày đó, những đôi tình nhân hay những cặp vợ chồng sẽ không còn gặp cảnh chia ly, kẻ ở lại trên quê hương tù đày, người đi tìm tự do hay các cô gái trẻ phải xa quê hương, lấy chồng nơi xứ người vì miếng cơm manh. Và ngày đó, những người cầm bút trên quê hương Viêt Nam được tự do nói lên tiếng nói của mình mà không sợ phải gặp cảnh đàn áp, tù đày.
Xin phép mượn bốn câu thơ đầu trong bài thơ "Trăng, Sương và Sao" và sửa lại một số chữ để kính tặng Thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, Người Thi Sĩ đã cống hiến suốt cả cuộc đời mình cho nền văn học Việt Nam và cho tiếng nói của người cầm bút:
Ánh trăng chiếu qua song
Xanh xanh mầu trăng trong
Chiếu dòng thơ cương quyết
Nét bút không bẻ cong!
-Cao Minh Hưng-
9/2014
@
Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026
Thôi Em Về Đi Nhé
Thôi Em Về Đi Nhé
Thôi em về đi nhé
anh trở lại rừng phong
chia ly lời rất nhẹ
sao nặng sóng trong lòng?
Chiều xuống dần thật lẹ
chiếc lá rơi nhẹ tênh
nếu em về quá trễ
gió sẽ buốt vai mềm
Thôi em về đi nhé
anh trở lại với anh
bước chân buồn quạnh quẽ
chạm hạt sương long lanh
Thu đã buồn như thế
sao còn mãi gọi tên
mà lá vàng cũng tệ
cứ khua mãi không quên
Cho lòng anh luyến nhớ
những giây phút bên em
giá mà không gặp gỡ
xa mãi rồi cũng quen
Thôi em về đi nhé
thương nhớ giữ trong lòng
gọi tên nhau lặng lẽ
qua cả một mùa Đông!
Cao Nguyên
---
Thôi Em Về Đi Nhé
Thơ: Cao Nguyên
Nhạc: Nguyễn Tuấn
Trình bày: Nguyễn Quang
Thứ Hai, 7 tháng 9, 2026
Việt Nam đất nước ba miền
Việt Nam đất nước ba miền
Việt Nam đất nước ba miền Cùng chung nguồn cội mẹ hiền Âu Cơ Tổ Tiên xây dựng cơ đồ Hiển linh hồn nước sắc cờ uy nghi
Cháu con gìn giữ bảo trì
Tổ Quốc Danh Dự vượt bi lụy đời
Không vì danh lợi nhất thời
Lãng quên Trách Nhiệm buông lơi nghĩa tình
Việt Nam truyền thống đẹp xinh
Vườn hoa chữ nghĩa lung linh sắc màu
Trí Tâm hòa hợp cùng nhau
Chăm sóc bảo quản trước sau vẹn toàn
Đất vui nhờ Nước dòng sông
Quanh năm tưới thấm ruộng đồng xanh tươi
Ngôn Ngữ đẹp nhất tình người
Đối nhân xử thế với lời nhã thanh.
*
Ngôn Ngữ đẹp nhất tình người
Đối nhân xử thế với lời nhã thanh.
Đối nhân xử thế với lời... nhã... thanh
Cao Nguyên
---
Nhạc phẩm "VIỆT NAM"💛
Kỷ Niệm 45 Năm Thành Lập Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn 11/26/22
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)