Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018

Giáo Dục Tại Việt Nam

Giáo dục XHCN  Sẽ Tự Xóa Sổ Chế Độ

Ngày 5/9 vừa qua là ngày khai giảng niên học 2018-19 ở Việt Nam. Đã 43 năm kể từ ngày CSBV tiến chiếm miền Nam, thu về một mối dưới ánh “hào quang quang vinh” của đảng, tình trạng giáo dục vẫn không thay đổi, nghĩa là những hình ảnh trong ngày tựu trường ở những vùng xa như thầy trò cùng leo đồi – lội sông – vượt suối như những hình ảnh minh họa dưới đây.
Nhưng mỗi năm, vẫn có những sự kiện mới trong ngày nầy, đặc biệt trong năm nay có thêm sự kiện mới nữa. Đó là:
·         Hàng năm vẫn phát hành hàng loạt sách giao khoa “mới” đề phân phối (thực ra là bán) tiêu tốn hàng chục ngàn tỷ ngân sách quốc gia, và vỗ béo cho hàng ngàn “cán bộ giáo dục”. Sách mới nhưng nội dung vẫn cũ vẫn còn những lỗi phạm phải mà không hề có sửa chữa;
·         Điểm mới năm nay có thêm bộ tự điển tiếng Việt …lai Tàu của Bùi Hiền;
·         Và loạt sách đánh vần “kiểu mới” (văn minh và khoa học gấp vạn lần kiểu đáng vần cũ) áp dụng cho lớp 1.
Đó chính là giáo dục xã hội chủ nghĩa siêu việt!
Đề tìm hiểu thêm, người viết lần lượt trình bày hai nền giáo dục ở miền Nam trước đây (1955-1975) và hiện tại sau 43 năm dưới sự cai trị của CSBV.

1-    Lãnh vực giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam
Vào năm 1958, một đại hội giáo dục toàn quốc (từ vỹ tuyến 17 trở vào) đã nghiên cứu và chấp nhận 3 nguyên tắc căn bản định hướng cho nền giáo dục Việt Nam là nhân bản, dân tộc, khai phóng. Và định hướng giao dục nầy được ghi rõ trong hiến pháp thời bấy giờ.
  1. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy nhằm mục đích phát triển toàn diện con người;
  2. Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan đến những cảnh huống sinh hoạt như gia đình, nghề nghiệp, đất nước và bảo đảm hữu hiệu cho sự sinh tồn và phát triển của quốc gia;
  3. Nền giáo dục việt Nam phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.
Đến năm 1970, thêm một nguyên tắc khác được đem vào làm chuẩn cho nền giáo dục Miền Nam. Đó là lấy sự tôn trọng tinh thần khoa học - như các quốc gia tân tiến trên thế giới - làm nền tảng cho mọi sự tiến bộ giáo dục tại Việt Nam.
Từ đó, giáo dục Miền Nam đã có những bước đi vững chắc trên nền tảng củaNhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học. Đây chính là kim chỉ nam giúp cho nền giáo dục Miền Nam liên tục thăng tiến, nâng cao phẩm chất giáo dục quốc gia, và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên Miền Nam trở thành những thành viên ưu tú của đất nước trong suốt thời kỳ 1958 – 1975.
2-    Còn tình trạng giáo dục Bắc Việt & Việt Nam sau ngày 30/4/1975 thì sao?
Về giáo dục nông thôn trước năm 1975, trình độ trung bình của thanh niên vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ở lớp tuổi từ 14 đến 25 là lớp 7.5 theo thông kế của UNESCO. Cũng trong thời điểm nầy, trình độ của lớp tuổi trên ở Đồng Bằng Sông Hồng là 5.5. Hiện tại (2016), tình trạng đã đảo ngược, trình độ ở ĐBSCL là 5.0 và ĐBSH là 7.0.
Vì vậy, việc làm cấp bách cho Việt Nam tương lai là phải đặt trọng tâm vào việc kiến thiết lại hệ thống giáo dục miền ĐBSCL, đồng thời với việc cải thiện hệ thống y tế công cộng của vựa lúa rất quan trọng này của cả nước.
Phải chăng đây là chính sách cào bằng và triệt hạ người dân miền Nam.Các trường học, ngoài việc thiếu thốn phòng ốc và tài liệu học tập (ngoại trừ các sách giáo khoa từ chương một chiều hạn chế tinh thần suy nghĩ độc lập và sáng tạo của học sinh) thậm chí không có nơi cho học sinh tiểu tiện. Học sinh phải nín tiểu, nín tiêu… tạo thành một hiện tượng trường ốc có một không hai trên thế giới? 
·         Về nước uống cho học sinh hầu như không được để ý đến, học sinh phải nhịn khát. Nhiều nơi được các nhà thiện nguyện ngoại quốc và người Việt tỵ nạn giúp đỡ các bình lọc nước… nhưng các bình lọc nầy chỉ hiện diện ở trường học một thời gian ngắn rồi biến mất về nhà của… cán bộ.
·         Hiện tại, nước uống cho học sinh, bàn ghế, phấn viết, và nhiều dịch vụ khác đều nằm trong chi phí mà phụ huynh phải trả trước tri con em được vào lớp. Trong lúc đó, hiến pháp xhcn có ghi rõ ràng là “giáo dục trung tiểu học là cưỡng bách và miễn phí”!
Bây giờ nếu nhìn vào xã hội hiện tại, chúng ta có thể hình dung một cách rõ ràng, qua báo chí cộng sản, trên các mạng lưới, hình ảnh thầy gạ dâm trò để nâng điểm cao hay cho biết đề thi, cảnh học sinh lớp 9 dở trò dâm ô với nhau trong khi cô giáo đang giảng dạy trên bảng, và hàng vạn tệ nạn khác xảy ra hàng ngày trên khắp các nẻo đường Việt Nam từ thành thị đến thôn quê.
Một thí dụ về Trường Nữ Trung học Gia Long trước 1975 và Trường Nguyễn Thị Minh Khai sau 1975: “Nội dung học tập của học sinh hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác, đặc biệt là trong lĩnh vực lịch sử và luân lý”. Con người xuất thân từ trường Gia Long có khái niệm về dân chủ, về chính thể tam quyền phân lập rõ ràng hơn. Còn học sinh Minh Khai thì coi chính sách độc đảng toàn trị là mô hình cai trị toàn hảo. Vì vậy mà sự hình thành nhân cách và lý tưởng của con người được đào tạo từ hai trường Gia Long và Minh Khai cũng hoàn toàn khác. (Trích Sổ Tay Ký Thiệt kỳ 129)
Xã hội Việt Nam hiện nay ngày càng băng hoại và chính hình ảnh nầy đã và đang đánh dấu buổi hoàng hôn của chế độ CS Bắc Việt.
Bây giờ hãy thử so sánh từng điểm của nền giáo dục trước năm 1975 với hiện trạng “giáo dục” ngày hôm nay, dưới chế độ CSBV, chúng ta thấy gì?
  1. Nhân bản: Nhân bản thời xã hội chủ nghĩa là tự do đàn áp, tra tấn và “cướp ngày”;
  2. Dân tộc: Dân tộc trong nghĩa Hán tộc đại đồng, chữ Tàu phải nằm trong chương trình giáo dục phổ thông;
  3. Khai phóng: còn có nghĩa là khai thông biên giới và chỉ tiếp cận với một văn minh duy nhứt là văn minh của Hán tộc;
  4. Và Khoa học: là khai thác, tận dụng tối đa sức lao động của người dân để cung phụng cho lý tưởng “đại đồng” của chủ nghĩa, tức là toàn đảng cùng giàu cùng hưởng thụ.
Vậy chính sách giáo dục quốc gia của Miền Nam trước 1975 khác xa HOÀN TOÀN giai đoạn giáo dục của xã hội chủ nghĩa hôm nay về căn bản và kết quả!

3-    Thay lời kết
Qua những nhận định trên, chúng ta thấy sự khác biệt của hai nền giáo dục đặt trên căn bản xã hội pháp trị và xã hội chủ nghĩa đã đưa “đầu vào” (học sinh) và “đầu ra” (kết quả học tập) như thế nào rồi. 
Vì vậy, bằng bất cứ giá nào mọi người con Việt trong và ngoài nước cần phải xóa tan cơ chế chuyên chính vô sản của xã nghĩa CSBV hầu mang lại một chính sách giáo dục đúng đán cho các thế hệ Việt về sau.
Và điều nầy cần phải hành động cấp bách.
Và, một Việt Nam DÂN CHỦ PHÁP TRỊ tương lai cần phải có một nền giáo dục đặt nặng vào các mục tiêu sau:
a.    Giúp cho thanh niên thu thập được nền văn hóa phổ thông, đồng thời chuẩn bị cho họ bước vào các ngành chuyên môn ở bậc đại học và kỹ thuật.
b.    Khuyến khích việc học ngoại ngữ, chú trọng đến các sinh hoạt hội đoàn để học sinh quen sống tập thể, có tinh thần tháo vát, biết giúp ích mọi người, đồng thời rèn luyện những đức tính cần thiết cho đời sống thực tế của một công dân tương lai.
c.    Đặc biệt chú ý đến vấn đề sức khỏe của học sinh và phát động phong trào thể dục thể thao toàn quốc, nhằm thực hiện mục tiêu “Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”.
d.    Và nhứt là đề cao môn đạo đức học và công dân giáo dục hầu tạo dựng một tầng lớp thanh niên ưu tú về khoa học, đạo đức, và ý thức công dân để kiến thiết quốc gia.
Nếu sự áp dụng chính sách quốc gia giáo dục của hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam được sáng suốt thi hành, và đặt trọng tâm trên nền tảng Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng – Khoa học, thế vào toàn bộ hệ thống giáo dục băng hoại của chế độ hiện hành, thiết tưởng một Việt Nam trong tương lai sẽ thoát khỏi sự thụt lùi trong một vài thập niên hậu Cộng sản.
Mai Thanh Truyết
Trích trong sách Gii pháp cho Vit Nam
Houston, 9/11/2018
https://maithanhtruyet1.blogspot.com/2018/09/giao-duc-xhcn-se-tu-xoa-so-che-o-ngay.html?spref=fb

Thứ Sáu, 7 tháng 9, 2018

Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến

Riêng với người tuổi trẻ Việt Nam hiện nay, trước tình hình đất nước đang bị Bắc Phương ngang nhiên đe dọa, không chỉ cần một lý tưởng đúng mà còn cần những kiến thức lịch sử không sai lệch để làm nền tảng cho suy nghĩ và hành động của mình.
Một cựu quân nhân Hoa Kỳ tên John Muir trong tác phẩm “Everything We Had: An Oral History of the Vietnam War” (1981) của tác giả Al Santoli (cũng là một cựu quân nhân) đã phát biểu:
“We did a fine job there. If it happened in World War II, they still would be telling stories about it. But it happened in Vietnam, so nobody knows about it. They don’t even tell recruits about it today. Marines don’t talk about Vietnam. We lost. They never talk about losing. So it’s just wiped out, all of that’s off the slate, it doesn’t count.”
Cho tới nay, dù sách viết về Chiến Tranh Việt Nam đã lên đến số ngàn, cuộc chiến Việt Nam vẫn còn là một sự kiện mù mờ với rất nhiều người Mỹ và người Việt nhất là các thế hệ trẻ lớn lên sau chiến tranh. Đối với người Mỹ, lý do chính như John Muir đã nêu ra: Việt Nam là thất bại thảm hại của Hoa Kỳ, do đó không người Mỹ nào muốn nhắc tới. Đối với người Việt, lý do phức tạp hơn và còn tùy thuộc vào phía nào là bên phát biểu. Tác phẩm “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến” của tác giả Hà Mai Việt góp phần làm sáng tỏ những lý do dẫn đến cuộc chiến thảm khốc mà hậu quả của nó ngày nay là một đất nước Việt Nam lụn bại về tất cả mọi mặt, đáng sợ hơn, đang đứng trước nguy cơ trở thành một thuộc địa hoàn toàn của Trung Cộng.
Sẽ có lời nói rằng: “Quay lại quá khứ làm gì khi Hoa Kỳ hiện nay đang chuyển trục về Châu Á và có thể bắt tay với Cộng Sản Việt Nam để chống Trung Cộng.”
Xin thưa, CSVN từ lâu đã có chiêu bài “Khép lại quá khứ-Hướng tới tương lai”, điều này nhằm khiến người Việt và người thế giới quên đi bản chất xảo trá và tàn ác của cộng sản để rồi họ sẽ tìm cơ hội lừa đảo, lấn lướt và nắm quyền sinh sát. Do đó, việc tìm hiểu về cuộc chiến Việt Nam không bao giờ thừa, nhất là khi cuộc chiến ấy đã bị cố tình quên lãng – từ phía người Mỹ, hay, cố tình bóp méo – từ phía người cộng sản.
Tác phẩm “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến” là một sưu tập và biên khảo từ nhiều tài liệu và phỏng vấn các nhân chứng. Thời gian kéo dài từ 1922 cho tới 1975 (khi Nam Việt Nam thất thủ). Từ vô số sự kiện lịch sử suốt nửa thế kỷ, tác giả chọn ra những sự kiện quan trọng nhất có tính quyết định dẫn đến những biến cố tiếp theo. Nhờ cách trình bày ngắn gọn và mạch lạc nên người đọc không bị mắc kẹt giữa một rừng dữ liệu, ngược lại cảm thấy thích thú, lôi cuốn.
***
Bìa "Việt Nam -  cội nguồn cuộc chiến". Nguồn: Hà Mai Việt.
Bìa “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến”. Nguồn: Hà Mai Việt.
“Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến” gồm ba chương:
Chương I – Nổi Trôi Theo Vận Nước: Mô tả những hoạt động chính trị, đảng phái, và các nhà ái quốc Việt Nam nổi dậy từ năm 1922 chống lại thực dân Pháp, Pháp thua Nhật, và Nhật đầu hàng Đồng Minh.
Chương II – Thế Chiến II: Tóm lược diễn biến trong Thế Chiến qua đó cho thấy vai trò và mục tiêu của cộng sản, tư bản và độc tài quân phiệt trên thế giới, nhất là ảnh hưởng của hai siêu cường Hoa Kỳ và Nga Sô, cùng xuất hiện sau Thế Chiến.
Chương III – Từ Thế Chiến đến Chiến Tranh Lạnh: Trình bày về nguồn gốc và diễn tiến của Chiến Tranh Lạnh giữa Nga Sô và Hoa Kỳ. Phản ứng ngăn chặn làn sóng Đỏ lan tràn tại Đông Á: Cao Ly và Việt nam trở thành hai điểm nóng trong Chiến Tranh Lạnh. Cao Ly được Liên Hiệp Quốc đỡ đầu, Nam Việt Nam được Hiệp Chủng Quốc yểm trợ. Nguyên nhân tại sao Hoa Kỳ phải chọn giải pháp Việt Nam Hóa Chiến Tranh và chủ trương Hòa Bình Trong Danh Dự. Chương III vẫn còn nhiều bí ẩn chưa được giải mật, đặc biệt là sự chuyển hướng của Hoa Kỳ – sau sự tan rã của Liên Sô, từ Liên Minh Đại Tây Dương, sang sự đối phó với một bá quyền của Trung Cộng ở Thái Bình Dương. Soạn giả chỉ có thể tóm lược các điểm chính với hy vọng thế hệ mai sau sẽ bổ khuyết.
***
Cho tới lúc này, khi có quá nhiều tài liệu minh chứng rằng Chiến Tranh Việt Nam thực ra chỉ là cuộc xâm lược nam tiến của Cộng Sản Bắc Việt theo lệnh Nga-Tàu thì nhà cầm quyền Hà Nội hết đường chối cãi. Thế nhưng, thay vì nhận tội và hối cải thì họ quay sang những toan tính khác, một trong những mưu toan này là – thêm một lần nữa – vận động lòng yêu nước của người dân vào việc chống Tầu. Và cũng có thể, thêm một lần nữa, sẽ giải tán Đảng Cộng Sản không khác gì Hồ Chí Minh đã giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1945. Kèm theo đó là những luận cứ bào chữa cho việc phải thần phục Nga-Tàu, cho rằng đó là phương cách cực chẳng đã, không còn cách khác để bảo toàn lực lượng, hay do nhân dân thiếu hiểu biết nên đã đưa cho Đảng quá nhiều quyền lực và vì thế Đảng mới sa ngã vì Đảng cũng chỉ là… con người, v.v. và v.v
Tất cả những diễn tiến ấy đẩy tuổi trẻ Việt Nam trước những thử thách mới. Dù không muốn, họ vẫn rơi vào một cuộc chiến khác, nhưng giờ đây là cuộc chiến của những con người đòi lại quyền sống; nói giản dị hơn, bọn thực dân hôm nay không ai xa lạ mà chính là những kẻ đang nắm quyền hành và người dân phải tìm cách vùng ra khỏi gôm cùm của chúng. Trong tình thế bức bách này, tác phẩm “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến” có giúp ích được gì cho họ không?
Điều đầu tiên và cốt lõi, một người không thể không biết đến lịch sử đất nước, nhất là khi lịch sử ấy có liên hệ chằng chịt tới lịch sử thế giới và dẫn đến vô số hệ lụy ngày nay. Biết lịch sử sai dễ sẽ dẫn đến thái độ sai: hoặc thất vọng vô lý, hoặc hy vọng hão huyền, từ đó mất niềm tin vào chính nghĩa và không muốn xây dựng cho mình một lý tưởng chân chính. Một khi không có lý tưởng, con người dễ sa ngã, buông xuôi khi găp biến cố lớn trong đời.
Riêng với người tuổi trẻ Việt Nam hiện nay, trước tình hình đất nước đang bị Bắc Phương ngang nhiên đe dọa, không chỉ cần một lý tưởng đúng mà còn cần những kiến thức lịch sử không sai lệch để làm nền tảng cho suy nghĩ và hành động của mình. Việc tìm hiểu lịch sử để rút ra những bài học hữu ích không hề là chuyện một ngày một buổi, hoặc dăm ba cuốn sách, nhưng nếu có được tài liệu đúng đắn thì sẽ tiến nhanh hơn trong thời gian ngắn hơn. “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến” là một tài liệu lịch sử cô đọng và trung thực, với nhiều nguồn kiểm chứng, sách sẽ giúp các bạn trẻ nhìn ra nguyên ủy của cuộc chiến Việt Nam mà không quá tốn nhiều thì giờ, công sức, hơn nữa còn có thể từ sách tìm đến những thông tin chi tiết hơn.
Tổng Thống Richard Nixon từng nói: “No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then, and it is misremembered now.” Nếu đã là người Việt Nam, phải có bổn phận đừng để cho Chiến Tranh Việt Nam bị xuyên tạc, đừng để những người đã ngã xuống vì tự do hy sinh một cách oan uổng, đừng bước vào thế trận mới với những kiến thức sai lệch. Những điều ấy nghe ra có vẻ to tát nhưng đều bắt đầu bằng những bước nhỏ của từng cá nhân. Hà Mai Việt, một người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã thực hiện phần của mình trong việc hoàn tất “Việt Nam – cội nguồn cuộc chiến”. Cuốn sách này sẽ góp phần nói lên những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam bây giờ và mãi mãi về sau.

Trịnh Bình An

***
Tác giả trong quân phục sĩ quan VNCH trước 1975). Nguồn: OntheNet
Tác giả trong quân phục sĩ quan VNCH trước 1975). Nguồn: OntheNet
Tiểu sử tác giả Hà Mai Việt
Sinh năm 1933 tại Nam Định. Nhập ngũ năm 1954. Thủ khoa Khóa I Thiết Giáp QLVNCH.
Các chức vụ đã trải qua:
Trưởng Phòng 3 Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, 1965 & 1970.
Quận Trưởng Quận Phú Hòa tỉnh Bình Dương, 1972.
Trưởng Phòng 3 Quân Đoàn I & Quân Khu I, 1973-1974.
Thiết Đoàn Trưởng TĐ 12 Kỵ Binh
Tư Lệnh Phó Lữ Đoàn I Kỵ Binh
Tham Mưu Phó Quân Đoàn I / Quân Khu I.
Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Trị
Phụ Tá Hành Quân Sư Đoàn 25 Bộ Binh
Hà Mai Việt là người từng tổ chức khuôn mẫu Binh Chủng Thiết Giáp nhằm đáp ứng việc chuyển giao vai trò chiến đấu trong kế hoạch Việt Nam Hóa Chiến Tranh. Hiện sinh sống tại tiểu bang Texas (Hoa Kỳ).

Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

Chữ Quốc Ngữ


" ...Chúng ta phải trân trọng tri ân các Giáo sĩ F. De Pina, Gaspar d’Amaral, Antonio Barbosa và Linh mục Alexandre De Rhodes cùng các thầy Raphael Quý, các thầy giảng Việt Nam Igesico Văn Tín, Bentô Thiện … và công sức của toàn dân Việt Nam đã hoàn chỉnh để ngày nay chúng ta có một ngôn ngữ phong phú, sinh động, một ngôn ngữ “nói như thơ nghe như nhạc” lên bổng xuống trầm đang được sử dụng rộng rãi khắp nơi trên toàn thế giới. .."